Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

HỆ THỐNG PHÂN PHỐI KHÍ BỂ ĐIỀU HÒA - 0977 451 703

CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THIẾT BỊ MÔI TRƯỜNG HỒNG PHÚC

WWW.HONGPHUCTV.COM.VN

EMAIL: MOITRUONGHONGPHUC@GMAIL.COM

TEL: 0977 451 703

LIÊN HỆ: 0977.451.703

Phương pháp sinh học được ứng dụng để xử lý các chất hữu cơ hòa tan có trong nước thải cũng như một số chất vô cơ như H2S, sunfit, ammonia, nitơ, … dựa trên cơ sở hoạt động của vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm. Vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và một số khoáng chất làm thức ăn để sinh trưởng và phát triển. Một cách tổng quát, phương pháp xử lý sinh học có thể phân chia thành 2 loại:
·         Phương pháp kỵ khí: Sử dụng nhóm vi sinh vật kỵ khí, hoạt động trong điều  kiện không có oxy;
·         Phương pháp hiếu khí: Sử dụng nhóm vi sinh vật hiếu khí, hoạt động trong điều kiện cung cấp oxy liên tục.
Quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa. Để thực hiện quá trình này, các chất hữu cơ hòa tan, chất keo và các chất phân tán nhỏ trong nước thải cần di chuyển vào bên trong tế bào vi sinh vật theo ba giai đoạn chính như sau:
-          Chuyển các chất ô nhiễm từ pha lỏng tới bề mặt tế bào vi sinh vật;
-          Khuếch tán từ bề mặt tế bào qua màng bán thấm do sự chênh lệch nồng độ bên trong và bên ngoài tế bào;
-          Chuyển hóa các chất trong tế bào vi sinh vật, sản sinh năng lượng và tổng hợp tế bào mới.
Tốc độ quá trình oxy hóa sinh hóa phụ thuộc vào nồng độ chất hữu cơ, hàm lượng các tạp chất và mức độ ổn định của lưu lượng nước thải vào hệ thống xử lý. Ở mỗi điều kiện xử lý nhất định, các yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng sinh hóa là chế độ thủy động, hàm lượng oxy trong nước thải, nhiệt độ, pH, dinh dưỡng và các nguyên tố vi lượng,...
Các phản ứng sinh hóa cơ bản của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong nước thải gồm có:
-          Oxy hóa các chất hữu cơ:
            CxHyOz + O2                                       CO2 + H2O + DH
-          Tổng hợp tế bào mới:
            CxHyOz + NH3 + O2                        Tế bào + CO2 + H2O + C5H7NO2 - DH
-          Phân hủy nội bào:
            C5H7NO2 + 5O2                     5CO2 + 2H2O + NH3 ± DH
Các quá trình xử lý sinh học bằng phương pháp hiếu khí có thể xảy ra ở điều kiện tự nhiên hoặc nhân tạo. Trong các công trình xử lý nhân tạo, điều kiện tối ưu cho quá trình oxy hóa sinh hóa được đáp ứng bằng cách sử dụng máy thổi khí để cấp khí liên tục dạng hạt mịn vào nước nên quá trình phân hủy chất hữu cơ có tốc độ và hiệu suất cao hơn rất nhiều. Việc sục khí nhằm đảm bảo các yêu cầu cung cấp đủ lượng oxy một cách liên tục và duy trì bùn hoạt tính ở trạng thái lơ lửng. 
Tốc độ sử dụng oxy hòa tan trong bể thổi khí phụ thuộc vào:
-          Tỷ số giữa lượng thức ăn (Chất hữu cơ có trong nước thải) và lượng vi sinh vật: tỷ lệ F/M;
-          Nhiệt độ;
-          Tốc độ sinh trưởng và hoạt độ sinh lý của vi sinh vật;
-          Nồng độ sản phẩm độc tích tụ trong quá trình trao đổi chất;
-          Lượng các chất cấu tạo tế bào;
-          Hàm lượng oxy hòa tan.

Một cách tổng quát, vi sinh vật tồn tại trong hệ thống bùn hoạt tính bao gồm Pseudomonas, Zoogloea, Achromobacter, Flacobacterium, Nocardia, Bdellovibrio, Mycobacterium, và hai loại vi khuẩn nitrate hóa Nitrosomonas và Nitrobacter. Thêm vào đó, nhiều loại vi khuẩn dạng sợi như Sphaerotilus, Beggiatoa, Thiothrix, Lecicothrix, và Geotrichum cũng tồn tại. Các vi sinh vật hiếu khí trong thiết bị xử lý sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải và thu năng lượng để chuyển hóa thành tế bào mới, chỉ một phần chất hữu cơ bị oxy hóa hoàn toàn thành CO2, H2O, NO3-, SO42-,… 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét